Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

O sole mio

O Sole Mio - Bài hát đẹp về tình yêu con người và cuộc sống

Đang lười , không muốn làm gì cả nên bật nhạc nghe, và tình cờ trong list có bài o sole mio này :D , làm 1 cái entry về bài hát này thôi \m/ ( nguồn từ internet )
Hãy để “Mặt trời” đến bên bạn.
Nếu bạn căng thẳng và mệt mỏi, hãy ngồi xuống ghế. Nhắm mắt lại và tĩnh tâm 1 giây và cất lên tiếng hát “O’ Sole Mio”. Hát bằng hết cả sức lực và hơi thở. Bạn có thể thấy ngay một điều diệu kỳ. Bạn sẽ trở về hiện tại và được thư giãn hoàn toàn.


Đó là ma thuật của một bài hát đẹp. Bài hát giúp người ta thiền tịnh khi lắng nghe. Bài hát giúp bạn xả trược khí trong cơ thể bằng hơi thở một cách trọn vẹn nhất. Và hơn nữa – bài hát đó còn mang tới bạn một thông điệp tươi mát của cuộc sống: “Thế giới này đẹp biết bao khi ta biết ngắm nhìn nhau”.
Đó là “O’ Sole Mio” (tạm dịch: Mặt trời của tôi)

Những ông già gân - Three Ternors :D
“O’ Sole Mio” (Mặt trời của tối) là bài hát viết để tham gia cuộc thi sáng tác (neapolitan) hàng năm của Liên hoan Piedigrotta (bắt đầu từ 1830) tại Naples, Itaty. 
Tháng 4/1898, Eduardo Di Capua ở Odessa, Itaty đã phổ nhạc cho bài thơ của Giovanni Capurro với cảm hứng của mình khi lưu diễn với người cha của mình là một nghệ sĩ vĩ cầm đường phố. Di Capua và Capurro đã bán bản quyền xuất bản bài hát lần đầu tiên cho Bideri với giá 25 lire (đơn vị tiền tệ Italy). Đến năm 2002, tiền bản quyền hàng năm của bài hát ước tính là 250.000 USD. Và bản quyền đang nằm trong tay những người thừa kế của Emanuele Alfredo Mazzucchi – người thứ ba (cùng 17 người khác) tham gia sáng tác bài hát nhưng đã im lặng cho đến khi qua đời (1972) – theo phán quyết của thẩm phán Italy. Bản quyền này sẽ được duy trì đến năm 2042.
Bài hát hát nổi tiếng đã được trình bày trong nhiều năm bởi những giọng ca trứ danh mà trong đó nổi tiếng là Placido Domingo, Jose Carreras (Tây Ban Nha) và ca sĩ người Itaty Luciano Pavarotti. Gần đây nhóm nhạc thiếu niên người Italy – IL Volo đã trình bày “O Sole Mio” trong buổi công bố Top 3 American Idol. Đó là các chàng trai lịch lãm Piero Barone (17), Ignazio Boschetto (16) và GianlucaGinoble (16). Nó cho thấy sức sống mãi sinh tồn của một bài hát đẹp.
Đã có những phiên bản của “O Sole Mio”. Năm 1950, Tony Martin đã có bài “Không có ngày mai” (cùng giai điệu,khác lời). Trong năm 1960, Elvis Presley đã có một hit ”Now Or Never” (khác lời). Ở Việt Nam – Cao Minh cũng đã viết lời mới cho O Sole Mio.

Bài hát của tình yêu cuộc sống và con người
Có một thực tế là cho dù có nhiều phiên bản nhưng chỉ có lời bài hát gốc mới thực sự là đẹp. Một ý niệm trong sáng, hiền hậu và tràn đầy mến thương: “O sole Mio”:  Vẫn còn một mặt trời khác sáng đẹp hơn mặt trời của thiên nhiên, đẹp hơn chính vẻ đẹp lao động của bạn – đó là gương mặt của bạn!
Một tình mến yêu con người như vậy thật hiếm, thật quý. Bạn là mặt trời của tôi – điều đó đến được chỉ khi tôi cảm nhận được đủ đầy những ấm áp từ bạn tỏa chiếu ra. Bạn làm việc và ca hát trong một ngày thật đẹp. Nhưng với tôi, cái đẹp đó cũng vẫn chưa đẹp bằng chính bạn trong tôi.
Chúng ta đi kiếm cho mình một mặt trời khó lắm thay. Có khi mặt trời quá nóng, quá khô khan và khắc nghiệt. Có khi mặt trời lại bị mây che âm u. Khi nào mặt trời tỏa rạng mà ta không cháy khát, chỉ thấy ấm áp, dễ chịu – đó là hạnh phúc tuyệt vời. Để cho đi một mặt trời như thế thật khó. Để được nhận một mặt trời như thế cũng thật khó. Nhưng mà ai lại không ao ước cái cảm giác dễ chịu và an lành ấy?
Hãy dành một buổi sớm lặng mình lắng nghe và cảm nhận mặt trời đang tỏa khắp trong cơ thể, trong trái tim và trí óc. Hãy cất tiếng hát từ sâu thẳm trong lòng mình “ Che bella cosa na jurnata ‘e sole” và cảm nhận những rung động từ âm thanh và lời ca làm khí huyết bừng lên trong từng tế bào. Bạn đang đứng trước mặt trời ở biển. Bạn đang đứng trước khung cửa của người bạn trên con phố nhỏ thân quen. Bạn đang đứng trong tình mến thương. Hãy sống trong giây phút ấy dù chỉ một tích tắc hay mỗi ngày. Bạn sẽ là người hạnh phúc nhất
Ghi chú
  • Có rất nhiều ca sĩ / nhóm nhạc thể hiện bài hát này bằng những bản khác nhau , ví dụ như nhóm IL VOVO - trong American IDOL hay Acapella ở VN. 
  • Có một giọng ca 13 tuổi từng thể hiện rất thành công bài hát này là Robertio Lorreti http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/robertino-loretti-mot-thoi-va-mai-mai
  • Bài hát này là tiếng Napoli cổ , chứ không thực sự là Tiếng Ý . Có 1 lần trong World Cup , người ta đã quên mất đĩa quốc ca của Ý và thay bằng bài hát này
  • Tất cả các bản dịch từ bài hát này đều không thể bằng bản gốc 



Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

The Philosophy of System Administration (1)

TRIẾT LÝ QUẢN TRỊ HỆ THỐNG

Nguồn : 

1. Tự động hóa mọi thứ

Hầu hết những đối tượng mà người quản trị quan tâm ngày càng tăng - gồm người dùng,  hệ thống hoặc cả 2. Trong nhiều trường hợp , tự động hóa là cách duy nhất để theo kịp sự phát triển. Thông thường, những hoạt động mà được thực hiện trên 1 lần sẽ được xem xét để tự động hóa
Dưới đây là những nhiệm vụ được tự động hóa thường thấy :
- Kiểm tra và báo cáo dung lượng trống của ổ đĩa
- Sao lưu ( Backup)
- Thu thập dữ liệu hoạt động của hệ thống
- Quản lý tài khoản người dùng (tạo , xóa .... )
- Những chức năng mang tính chất kinh doanh đặc trưng ( đẩy dữ liệu mới lên Web, báo cáo định kỳ theo tháng , quý hoặc năm , ....)
Danh sách trên vẫn còn tiếp tục; những chức năng tự động hóa chỉ bị giới hạn bởi ý muốn của người quản trị khi viết các script cần thiết. Trong trường hợp này , lười biếng ( và khiến máy tính làm việc nhiều hơn ) lại là điều tốt.
Tự động hóa mang đến thêm cho người dùng lợi ích của việc nhất quán trong dịch vụ.
Note:
Luôn ghi nhớ trong đầu rằng nếu bạn phải thực hiện việc tự động hóa 1 nhiệm vụ,  bạn không phải là người quản trị đầu tiên phải thực hiện việc đó. Đây chính là thế mạnh của phần mềm mã nguồn mở , bạn có thể tận dụng những thứ mà người khác làm để tự động hóa những thủ tục thường tiêu tốn thời gian của mình. Vì thế luôn luôn tìm kiếm trên web trước khi viết những thứ phức tạp hơn 1 đoạn mã Perl nhỏ.

2. Ghi chép lại mọi thứ

Nếu phải lựa chọn giữa việc cài đặt 1 server mới hoặc ghi chép lại việc thực hiện backup, khoảng 1  nửa số người quản trị chọn việc cài đặt server mới. Nếu xảy ra những việc bất thường , bạn phải ghi chép lại những thứ mình làm. Nhiều người quản trị đã bỏ qua việc ghi chép lại vì 1 vài lý do sau:
"Tôi sẽ tìm hiểu vấn đề này sau"
Thật không may , điều này thường không đúng. Kể cả người quản trị đang nghiêm túc , thì bản chất của công việc là những nhiệm vụ hằng ngày thường khá rắc rối để mà "làm việc đó sau". Tệ hơn nữa , càng bỏ qua lâu , người quản trị quên càng nhiều và dẫn đến việc những ghi chép sẽ kém chi tiết (và kém hữu dụng).
"Tại sao lại viết nó ra ? Tôi sẽ nhớ nó"
 Nếu bạn không phải là 1 trong số ít cá nhân có khả năng ghi nhớ hình ảnh , bạn sẽ không nhớ nó. Tệ hơn , bạn chỉ nhớ được 1 nửa và không nhận ra mình đã quên cả câu truyện. Điều này sẽ khiến bạn lãng phí thời gian để nhớ lại những gì đã quên hoặc sửa chữa những sai sót do sự thiếu hiểu biết của mình.
"Nếu tôi giữ nó trong đầu, họ sẽ không sa thải tôi - Tôi có 1 công việc được đảm bảo"
 Khi làm 1 thời gian , điều này chỉ khiến bạn có nguy cơ mất việc cao hơn. Hãy nghĩ đến l lúc nào đó trường hợp khẩn cấp xảy ra. Bạn không có mặt tại đó , những ghi chép của bạn sẽ giúp người khác giải quyết vấn đề trong những ngày bạn vắng mặt. Và đừng bao giờ quên rằng những trường hợp khẩn cấp có xu hướng xảy vào những lúc mà những người quản lý cấp cao chú ý sát sao. Trong nhiều trường hợp , sẽ tốt hơn nếu những ghi chép của bạn là 1 phần của giải pháp chứ không phải sự vắng mặt của bạn là 1 phần của vấn đê.
Thêm vào nữa, nếu bạn là thành viên của 1 tố chức nhỏ nhưng đang phát triển , sẽ có lúc cần thêm những người quản trị khác. Làm thế nào để những người đó học được những thứ bạn đã làm nếu bạn giữ chúng trong đầu. Tệ nhất là không có ghi chép nào khiến bạn là người không thể thiếu , điều đó dẫn đến bạn khó thăng tiến trong sự nghiệp
Hi vọng rằng bạn đã hiểu được những lợi ích của các ghi chép hệ thống. Điều đó mang đến cho chúng ta câu hỏi: Ghi chép lại như thế nào ? Dưới đây là 1 phần danh sách :
Các chính sách
Người ta viết ra những chính sách để định dạng và làm rõ mối liên hệ với cộng động người sử dụng. Người dùng dễ dàng biết các yêu cầu của họ tơi tài nguyên được hỗ trợ hoặc xử lý như thế nào. Bản chất , phong cách và phương thức phổ biến chính sách sẽ có sự khác nhau giữa các tổ chức.
 Các thủ tục
Thủ tục là các bước tuần tự cho 1 hành động để hoàn thành 1 nhiệm vụ nhất định. Các thủ tục được ghi chép bao gồm backup, quản lý tài khoản người dùng, báo cáo sự cố và hơn nữa. Giống với việc tự động hóa , nếu 1 thủ tục được làm nhiều lần , cần phải ghi chép lại.
Các thay đổi
Khối lượng lớn công việc của người quản trị là giải quyết những thay đổi - cấu hình hệ thống để đạt hiệu năng cao, tinh chỉnh script, thay đổi file cấu hình .... Những thay đổi này được ghi chép  lại dưới vài kiểu. Nếu không , sau vài tháng bạn sẽ nhận thấy rằng những thay đổi trước là hoàn toàn sai lầm.
1 vài tổ chức sử dụng những phương pháp phức tạp để đánh dấu các thay đổi, nhưng trong nhiều trường hợp 1 ghi chép thay đổi từ lúc bắt đầu là tất cả những gì cần thiết . Tối thiểu 1 entry ghi chép lại gồm :
  • Tên viết tắt của người tạo ra thay đổi 
  •  Ngày thay đổi 
  •  Lý do thay đổi
Đây là 1 entry ngắn gọn những có ích :
ECB, 12-June-2002, Updated entry for new Accounting printer (to support the replacement printer's ability to print duplex)

3. Tương tác nhiều nhất có thể

Khi giao tiếp với người dùng , bạn không bao giờ có thể giao tiếp được nhiều. Cần biết rằng 1 thay đổi nhỏ trong hệ thống mà bạn nghĩ sẽ không gây ra ảnh hưởng gì đáng kể có thể hoàn toàn làm xáo trộn sự trợ giúp về mặt quản trị trong nguồn nhân lực
Cách thức mà bạn kết nối với người dùng có thể khác nhau tùy vào từng tổ chức. 1 vài tổ chức sử dụng email; số khác thì sử dụng web nội bộ. Số khác nữa thì sử dụng bảng tin USENET hay IRC. 1 tờ giấy được dính lên các bảng thông báo có thể là đủ ở 1 số tổ chức. Trong trường hợp này , hãy sử dụng bất kì cách nào phù hợp với tổ chức của bạn.
Thông thường, người ta sử dụng cách diễn giải từ trên xuống :
  • Nói với người dùng bạn sẽ làm gì
  • Nói với người dùng bạn đang làm gì
  • Nói với người dùng bạn vừa làm cái gì
 Những cái tiếp theo sẽ đi sâu vào những bước trên

3.1 Nói với người dùng bạn sẽ làm gì

Hãy chắc chắn rằng bạn đã gửi những cảnh báo đầy đủ tới người dùng. Những cảnh bảo cần thiết thực tế phụ thuộc vào loại thay đổi ( nâng cấp HĐH sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn việc thay đổi màu nền màn hình đăng nhập ), cũng tương tự như bản chất cộng đồng người sử dụng ( thay đổi nhiều với người sử dụng có kiến thức chuyên sâu sẽ đơn giản hơn so với những người ít có kiến thức )
1 cách tối thiểu , bạn có thể mô tả những thứ sau

  • Bản chất của việc thay đổi
  • Khi nào nó sẽ xảy ra
  • Tại sao nó xảy ra
  • Thời gian kéo dài
  • Tác dụng ( nếu có ) mà người dùng mong đợi
  • Thông tin liên lạc để họ có thể liên lạc
Dưới đây là những trường hợp trong giả thiết. Phòng Tài Chính gặp vấn đề về việc hoạt động chậm chạp của cơ sở dữ liệu vào 1 số thời điểm. Bạn sẽ tắt server , nâng cấp CPU đời mới , và khởi động lại. Khi điều này được thực hiện , bạn sẽ chuyển database sang dạng lưu trữ RAID. Dưới đây là 1 thông báo cho trường hợp này
Kế hoạch dừng hoạt động của server vào đêm thứ 6
Bắt đầu từ 6 giờ tối ( lúc này là nửa đêm cho các công ty liên kết ở Berlin ) , tất cả các ứng dụng tài chính sẽ dừng hoạt động trong vòng 4 tiếng đồng hồ .
Trong khoảng thời gian này , những thay đổi về phần cứng và phần mềm của server chứa cơ sở dữ liệu của Phòng Tài Chính sẽ được thực hiện. Những thay đổi này sẽ làm giảm đáng kể thời gian cần thiêt để chạy các ứng dụng Accounts Payable, Accounts Receivable , và bảng cân đối tài chính hàng tuần. 
Khác với sự thay đổi trong thời gian chạy, hầu hết mọi người sẽ không nhận thấy có sự thay đổi nào cả. Tuy nhiên, những người viết các câu truy vấn SQL của riêng của mình cần phải biết rằng cách sắp xếp của một số chỉ số sẽ thay đổi. Đây là tài liệu trên trang web của công ty trong mạng nội bộ, trên trang Tài chính. 
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi, ý kiến, hoặc góp ý, xin vui lòng liên hệ người quản trị hệ thống , mã số mở rộng 4321.
Có vài điểm cần chú ý

  • Giao tiếp hiệu quả bắt đầu và kéo dài trong suốt quá trình xảy ra thay đổi
  • Đảm bảo rằng bạn cung cấp lịch thay đổi phù hợp với mọi người ở bất kì chỗ nào
  • Sử dụng các thuật ngữ mà người dùng hiểu.  Những người bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi này không quan tâm rằng các mô-đun CPU mới là một đơn vị 2GHz với bộ nhớ cache L2 gấp đôi, hoặc cơ sở dữ liệu đang được sử dụng giải pháp lưu trữ RAID 5. 

< Hết phần 1 >

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Gia phả dòng họ Linux


Trong cái hình dưới thì mọi người có thể thấy có 3 nhánh chính là Debian , Slackware và Redhat.
Những OS Linux biết được thì chắc ko quá 20 cái , quá ít so với chỗ này :D
Hơn nữa số lượng thống kê dưới này chắc chắn vẫn chưa đủ hết , có những biến thể khác nhau của Linux được các công ty như GOOGLE , FACEBOOK ... thay đổi để phù hợp với yêu cầu của họ ( chủ yếu là những con server)



Có thể vài người thắc mắc sao ko thấy BSD ở đây , câu trả lời là BSD được coi là Unix-based , Linux được coi là Unix-liked. Vấn đề này sẽ được làm rõ ở 1 cái entry khác :D

Tiến trình khởi động của LINUX


Tiến trình khởi động Linux

- Khởi động hệ thống : Trên một máy tính , Linux khởi động bắt đầu trong BIOS từ địa chỉ 0xFFFF0. Bước đầu tiên của BIOS là POST ( power-on self test ) để kiểm tra phần cứng , liệt kê danh sách các thiết bị và khởi động chúng . Sau đó BIOS tìm kiếm các thiết bị khởi động trong CMOS như đĩa mềm ,CD-ROM, USB hay phân vùng MBR ( Master Boot Record ) trong đĩa cứng . Thường thì hệ thống bắt đầu khởi động từ đĩa cứng có MBR . MBR là 1 sector 512 byte đặt tại sector 1 cylinder 0 head 0. Sau khi MBR được nạp , BIOS sẽ chuyển quyền điều khiển cho đoạn mã trong MBR
















- Giai đoạn 1 : MBR là 1 image 512 byte gồm 446 byte khởi động sơ cấp , 64 byte phân hoạch (partition table) và 2 byte magic number . Nhiêm vụ của MBR là tìm và nạp trình khởi động thứ cấp bằng cách xác định phân vùng có cờ Active trong bảng , rồi đọc bootsector từ phân vùng đó 



- Giai đoạn 2 : BOOTLOADER tiến hành nạp kernel và khởi động RAM disk (nếu cần) . BOOTLOADER trong linux thường là LILO hoặc GRUB. Nhưng hiện giờ có lẽ chỉ còn xài GRUB. File cấu hình của GRUB là /etc/grub.conf ( Trong Windows thì bootloader có tên là NTLDR ). Trình khởi động đọc file cấu hình và hiển thị danh sách kernel. Sau khi lựa chọn sẽ nạp kernel image và initrd vào bộ nhớ . Khi kernel sẵn sàng , giai đoạn 2 sẽ triệu gọi kernel . Kernel nạp vào bộ nhớ , quyền điều khiển sẽ trao cho kernel. Kernel có 2 dạng nén là zImage hoặc bzImage ( thường là bzImage). 
+ Phần đầu kernel chứa thủ tục thiết lập phần cứng và giải nén kernel , sau đó triệu gọi kernel và quá trình khởi động kernel bắt đầu .
+ Kernel sẽ mount hệ thống file và file hệ thống . Kernel sẽ khởi động tiến trình init nên init có process id là 1 ( init là cha của các tiến trình khác trong linux )
Đến đây có thể coi như tiến trình khởi động linux đã hoàn thành .

Vậy có thể tóm tắt lại là :




P/s : GRUB hay LILO đều có thể khởi động cho cả Linux và Windows, nhưng ngược lại các bootloader trên Windows như (NTLDR, BOOTMGR) thì không hỗ trợ khởi động cho các hệ điều hành Linux. Ví dụ hình sau minh họa cho máy tính cài 2 HDH là Windows và Linux

Khái niệm phân vùng đĩa cứng trong Linux

1. Lý thuyết tổng quát

- Quá trình khởi động: khi bật công tắc (Power), BIOS sẽ làm công việc đầu tiên là “chạy đôn chạy đáo” kiểm tra những phần cứng cơ bản (gồm ổ đĩa cứng, ổ đĩa mềm, bàn phím…) đã được nối vào máy tính. Những phần cứng này sẽ lần lượt được nạp driver (trình điều khiển – BIOS đã có sẵn driver rồi) để có thể sử dụng được ngay khi khởi động xong, đồng thời BIOS cũng đi tìm một đoạn chương trình bé xíu được đặt tại phần đầu của đĩa mềm (Boot sector), đĩa cứng (MBR – Master Boot Record) để “đùn đẩy trách nhiệm” khởi động tiếp
Riêng đối với đĩa cứng, ngoài MBR còn có thêm Boot sector nữa, Boot Sector này “tạm trú” ngay đầu của mỗi phân vùng Primary (sẽ nói sau) và Boot Sector của Primary đầu tiên sẽ nằm sau MBR. Tại đây, ta không nói đến đĩa mềm vì quá đơn giản, chỉ cần nạp xong Boot Sector là OK. Đĩa cứng thì phức tạp hơn, MBR không nạp ngay hệ điều hành mà còn “bận” phải xác định xem trong đĩa cứng hiện có bao nhiêu phân vùng và phân vùng nào sẽ được ưu tiên khởi động. Mỗi phân vùng Primary sẽ “cầm” một cái cờ tên là Active, trong một thời điểm khởi động chỉ có một Primary được phất cờ thôi, và khi MBR nhận ra được “em” nào phất thì tức khắc “tống” ngay tiến trình khởi động sang cho Boot Sector của Primary đó làm tiếp. Lúc này, Boot Sector mới tìm những tập tin khởi động của hệ điều hành (nếu có) để “chuyển giao công đoạn” và chấm dứt khởi động, phận ai người nấy lo mà.


- Số lượng phân vùng: đối với mỗi ổ đĩa cứng, có hai loại phân vùng là: Primary (phân vùng chính) và Extended (phân vùng mở rộng). Primary là phân vùng có khả năng khởi động (đã nói ở trên đó). Về mặt vật lý, ổ đĩa cứng chỉ có thể chia làm bốn phân vùng, tức là chỉ cài được tối đa bốn hệ điều hành trên một đĩa cứng mà thôi. Tuy nhiên, nếu không có “ham muốn” dùng nhiều hệ điều hành mà chỉ có “ý định” chia nhiều ổ đĩa thì có thể dùng phân vùng Extended, phân vùng này cho phép chia bên trong nó nhiều phân vùng con gọi là Logical.



2. Lý thuyết của DOS/Windows

Những đề cập bên dưới chỉ tập trung vào cấu trúc Basic Disk (tức là những gì ta thấy, hiểu và cảm nhận từ trước đến giờ trên nền DOS/Windows), còn Dynamic Disk của cơ chế RAID thì… miễn bàn.
 - Tên phân vùng: Hệ điều hành DOS/ Windows gọi phân vùng “phất” cờ Active là C:, các ký tự tiếp theo (D:, E:, F:…) lần lượt được gán cho các phân vùng Logical của phân vùng Extended đầu tiên, khi hết Extended đầu tiên sẽ chuyển qua Extended thứ hai (nếu có), và khi hết Extended mới “ân huệ” cho các phân vùng Primary tiếp theo, dù vị trí có nằm trước Extended đi chăng nữa.

- Ẩn phân vùng Primary: DOS và Windows 9x không cho phép hai phân vùng Primary “chường mặt” ra đồng thời, tuy nhiên nếu cố “ép” thì vẫn được. Vì thế, nếu đã đặt Active cho một Primary thì các Primary khác sẽ tự động… “mất tích”.

3. Lý thuyết của Linux

- Tên phân vùng: Hạt nhân Linux/ Unix xây dựng cơ chế truy xuất tất cả các loại đĩa và thiết bị đều ở dạng tập tin. “Chú chim cánh cụt” đặt tên cho bé ổ đĩa mềm là fd (floppy disk), ổ đĩa mềm thứ nhất là fd0, ổ đĩa mềm thứ hai là fd1 (hết rồi, chỉ có tối đa hai ổ đĩa mềm thôi). Tiếp đến là ổ đĩa cứng, nếu là ổ đĩa IDE thì có tên hd (hard disk), còn nếu là ổ đĩa SCSI thì có tên là sd (SCSI disk). Bây giờ bàn về ổ đĩa cứng IDE thôi nhé (ổ SCSI cũng tương tự). Ổ đĩa cứng vật lý thứ nhất “làm khai sinh” với tên hda, thứ hai là hdb, thứ ba là hdc, nếu còn nữa thì tiếp tục. Trên từng ổ đĩa cứng, mỗi phân vùng cũng có tên riêng, điển hình là bốn phân vùng “sếp” (Primary và Extended) chiếm lấy các tên từ hda1 đến hda4 (hdgìgì không nhất thiết chỉ có a đâu nhé, phải linh hoạt chứ, chỉ là ví dụ thôi). Các số từ 5 trở lên (như hda5, hda6…) được đặt cho các phân vùng Logical bên trong phân vùng Extended. Điều này khác với DOS/ Windows, vì trên DOS/Windows thì Extended không có tên, nhưng trên Linux thì Extended có tên hẳn hoi. Dù bạn không chia đủ 4 phân vùng “sếp” thì các “bé” Logical cũng vẫn đi từ 5 trở lên, không “bàn cãi trả giá” gì hết. 

- Phân vùng tráo đổi SWAP: Nếu Windows sử dụng tập tin tráo đổi SWAP để lưu tạm bộ nhớ thì Linux dùng ngay cả một phân vùng SWAP hẳn hoi để làm việc này (quá sang!), phân vùng SWAP phải nằm trên Extended tức là Logical í, và phải có kích thước gấp hai lần kích thước bộ nhớ RAM hiện có trên máy. Tuy vậy, đối với những máy có dung lượng bộ nhớ RAM từ 32MB trở lên thì Linux khuyến khích đặt kích thước phân vùng SWAP bằng với dung lượng RAM. Dù thế, bạn vẫn được toàn quyền đặt kích thước phân vùng SWAP mà.

- Giải phân mảnh (Defragment): Khi dùng Windows, bạn phải thường xuyên làm công việc “dồn đĩa” giải phân mảnh để tăng tốc hệ thống. Thế nhưng ở Linux, ta không cần vì kiểu phân vùng EXT2 (hoặc EXT3) đã có đoạn chương trình tự động chống phân mảnh trong khi làm việc. Đây là một đặc tính rất hay của Linux, nhưng bạn phải trả cho Linux với giá 10% dung lượng phân vùng. Thật ra, đây là cái giá không cao, và bạn hưởng được tính ổn định và hiệu năng tối ưu.

Trần Anh Vũ (Báo e-CHÍP số 45, 18/11/2003)

Ghi chú : 
- Chỉ có thể tạo được 1 phân vùng extended, tối đa trong đó có 24 ( hay 27 ) phân vùng logical
- Ngày xưa máy tính còn yếu thì phân vùng swap trong linux được khuyến cáo đặt gấp đôi RAM , nhưng bây giờ thì chỉ cần đặt bằng hoặc 1 nửa

About me

Xin chào và cảm ơn các bạn đã ghé vào cái blog này :D
Tên của tôi thì bạn có thể nhìn sang bên phải.

Đã lâu rồi không còn viết blog , kể từ cái 360 bị đóng . Chuyển sang facebook thì toàn wall , chứ còn mấy ai viết entry nữa ( cái note thì coi như vứt , hiếm lắm mới thấy vài người viết )
Tại blog này tôi sẽ chia sẻ những suy nghĩ và kiến thức về tất cả mọi thứ mà tôi quan tâm : Cuộc sống , Networking , Linux và có thể là M$ :)). Có thể đó là những thứ tự viết hoặc những thứ được đọc , muốn lưu lại.
Tôi là một người mà nếu nhìn từ bên ngoài vào có vẻ rất tẻ nhạt :) , nhưng đó chỉ là bề nổi của tảng băng mà thôi :D .

Chúc các bạn có thể tìm được những thứ hay ho trong cái blog này :D