Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Cấu hình Dynamic DNS trên CentOS 5.x

Đây là bài viết tiếp theo sau 2 bài DNS và DHCP trước. Vấn đề đặt ra ở đây là khi cấp phát các địa chỉ IP cho client xong thì làm thế nào để DNS cập nhập các bản ghi đó để tiện cho việc quản lý.
Ở bài này không phải cài lại từ đầu mà chỉ cần thay đổi 1 số nhỏ trong các file cấu hình của BIND và DHCP là xong.
1, Tạo key dành cho việc chứng thực giữa DHCP và BIND , tên của nó là rndckey :
- [root@srv2 ~]# rndc-confgen > /var/named/chroot/etc/rndc.key
2, Chỉnh sửa trong file rndc.key trong đường dẫn /var/named/chroot/etc/ : đặt dấu # tại các dòng in đậm, sao cho giống như file mẫu sau
# Start of rndc.conf
key "rndckey" {
     algorithm hmac-md5;
     secret "4zxdQwfZxHkp4puLMnkWCg==";
};
#options {
# default-key "rndckey";
# default-server 127.0.0.1;
# default-port 953;
#}
;
# End of rndc.conf
# Use with the following in named.conf, adjusting the allow list as needed:
# key "rndckey" {
# algorithm hmac-md5;
# secret "4zxdQwfZxHkp4puLMnkWCg==";
# };
#
# controls {
# inet 127.0.0.1 port 953
3, Chỉnh sửa file named.conf trong /var/named/chroot/etc/ : chú ý các dòng in đậm phải thêm vào

include "/etc/rndc.key";
options {
directory "/etc";
forwarders {208.67.222.222;};
};
zone "." {
type hint;
file "/etc/root.db";
};
zone "example.com" {
type master;
file "/var/named/example.com.db";
allow-update { key rndckey; };
};
zone "1.168.192.in-addr.arpa" {
type master;
file "/var/named/1.168.192.db";
allow-update { key rndckey; };
};
4, Chỉnh sửa file dhcpd.conf trong /etc/ : lưu ý sửa cho đúng theo những đoạn đã in đậm

include "/etc/rndc.key";
authoritative;
server-identifier srv2.example.com;
ddns-domainname "example.com";
ddns-rev-domainname "in-addr.arpa";
ddns-updates on;
allow client-updates;

ddns-update-style interim;
DHCPARGS=eth1;
zone example.com. {
primary 192.168.1.2;
key rndckey;
}
zone 1.168.192.in-addr.arpa. {
primary 192.168.1.2;
     key rndckey;
}


subnet 192.168.1.0 netmask 255.255.255.0 {
# --- default gateway
option routers 192.168.1.2;
option subnet-mask 255.255.255.0;
option domain-name "example.com";
option domain-name-servers 192.168.1.2;
option time-offset -18000; # Eastern Standard Time
# option ntp-servers 192.168.1.1;
# option netbios-name-servers 192.168.1.1;
# --- Selects point-to-point node (default is hybrid). Don't change this unless
# -- you understand Netbios very well
# option netbios-node-type 2;
range dynamic-bootp 192.168.1.20 192.168.1.100;
default-lease-time 21600;
max-lease-time 43200;
# we want the nameserver to appear at a fixed address
host ns {
hardware ethernet 00:0C:29:FA:41:88;
fixed-address 192.168.1.50;
}
}
5, Trong thư mục /var/named/chroot/var/named , tạo sẵn 2 file có dạng sau và chmod cho chúng để có thể ghi vào các file :
- [root@srv2 named]# touch 1.168.192.db.jnl       ( bỏ )
- [root@srv2 named]# touch example.com.db.jnl     ( bỏ )
- [root@srv2 named]# chmod 776 example.com.db.jnl 1.168.192.db.jnl   ( bỏ )
- [root@srv2 named]# chmod 666 example.com.db 1.168.192.db
- [root@srv2 named]# chmod 770 /var/named/chroot/var/named/

6, Cấu hình selinux cho phép thực hiện update các bản ghi :
- [root@srv2 /]# setsebool -P named_write_master_zone=1

7, Khởi động lại các dịch vụ :
- [root@srv2 /]# /etc/init.d/named restart
- [root@srv2 /]# /etc/init.d/dhcpd restart

8, Test bằng cách để 1 client nhận địa chỉ IP động từ DHCP, sau đó nslookup chính địa chỉ IP mà máy đó nhận được , nếu có kết quả trả về tức là thành công. Lúc này trong đường dẫn /var/named/chroot/var/named/ sẽ tạo ra 2 file example.com.db.jnl1.168.192.db.jnl ( bắt đầu có client nhận IP từ DHCP thì lúc đó mới tạo ra 2 file trên )


P/S :
- Đã sửa dòng ddns-rev-domainname "1.168.192.in-addr.arpa"; trong file dhcpd.conf thành ddns-rev-domainname "in-addr.arpa"; vì nếu có 1.168.192 ở đầu thì nó sẽ cập nhập vào trong 1.168.192.db thành dòng có dạng
100.1.168.192    PTR   client.example.com.
 làm cho máy client không thể phân giải được địa chỉ. Nếu đúng thì phải là
100                     PTR   client.example.com.
- File 1.168.192.db sẽ trở thành có dạng như sau, file example.com.db cũng tương tự :
$ORIGIN .
$TTL 86400      ; 1 day
1.168.192.in-addr.arpa  IN SOA  example.com. root.example.com. (
                                2007121802 ; serial
                                14400      ; refresh (4 hours)
                                3600       ; retry (1 hour)
                                604800     ; expire (1 week)
                                86400      ; minimum (1 day)
                                )
                        NS      srv2.example.com.
$ORIGIN 1.168.192.in-addr.arpa.
1                       PTR     srv1.example.com.
$TTL 10800      ; 3 hours
100                     PTR     client.example.com.
$TTL 86400      ; 1 day
2                       PTR     srv2.example.com.
3                       PTR     srv3.example.com.

- Gạch bỏ 1 số bước ở trên.
- Làm trên CentOS 5.7 nhanh hơn 5.5 ( ? )


Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Cấu hình DHCP trên CentOS 5.x

Bài này sẽ là bài kế tiếp trong bộ bài viết xây dựng 1 hệ thống dịch vụ mạng chạy trên Linux 1 cách hoàn chỉnh.
Ở bài này, chúng ta sẽ đi xây dựng dịch vụ DHCP dạng step-by-step, còn DHCP là gì thì mọi người tìm hiểu thêm :D. Ở đây chúng ta cài DHCP lên máy chủ srv2 đã cài đặt DNS ( nếu muốn rõ hơn hãy xem lại bài DNS )

1, Cài đặt các gói cần thiết :
- Cho đĩa cài đặt CentOS
- [root@srv2 ~]# mkdir /media/cdrom
- [root@srv2 ~]# mount /dev/cdrom /media/cdrom
- [root@srv2 CentOS]# cd /media/cdrom/CentOS
- [root@srv2 CentOS]# rpm -Uvh dhcp-3.0.5-23.el5_5.2.i386.rpm
- [root@srv2 CentOS]# cd /  ( quay trở lại đường dẫn "/" để chuẩn bị umount )
- [root@srv2 /]# umount /dev/cdrom

2, Cấu hình file dhcpd.conf trong đường dẫn /etc/ :
- [root@srv2 /]# less /etc/dhcpd.conf
- Ở đây ta thấy có dòng ghi 1 file sample của dhcpd.conf, chúng ta copy file đó và ghi đè lên /etc/dhcpd.conf
- [root@srv2 /]# cp /usr/share/doc/dhcp-3.0.5/dhcpd.conf.sample /etc/dhcpd.conf  ( chú ý /dhcp-3.0.5 là phụ thuộc vào gói ta cài đặt, tốt nhất là dùng TAB di chuyển vào , nếu không có thể copy file cấu hình ở dưới )
- [root@srv2 /]# vi /etc/dhcpd.conf
- Chú ý thay đổi tại 1 số chỗ sau
ddns-update-style interim;
ignore client-updates;
DHCPARGS=eth1;        # cấu hình dịch vụ DHCP lắng nghe trên card mạng eth1
subnet 192.168.1.0 netmask 255.255.255.0 {
# --- default gateway
option routers 192.168.1.2;   # cấu hình gateway cho các máy client
option subnet-mask 255.255.255.0;
option domain-name "example.com";
option domain-name-servers 192.168.1.2;
option time-offset -18000; # Eastern Standard Time
# option ntp-servers 192.168.1.1;
# option netbios-name-servers 192.168.1.1;
# --- Selects point-to-point node (default is hybrid). Don't change this unless
# -- you understand Netbios very well
# option netbios-node-type 2;
range dynamic-bootp 192.168.1.20 192.168.1.100;
default-lease-time 21600;
max-lease-time 43200;
# we want the nameserver to appear at a fixed address
# Cấu hình đặt chỗ địa chỉ IP cho 1 số client cụ thể , DHCP reservation
host ns {
hardware ethernet 00:0C:29:FA:41:88;   #địa chỉ MAC của client đó
fixed-address 192.168.1.50;         #địa chỉ IP đặt trước
}
}
3, Khởi động dịch vụ :
- [root@srv2 /]# /etc/init.d/dhcpd start
4, Thiết lập dịch vụ chạy khi Server khởi động :
- [root@srv2 /]# chkconfig --level 2345 dhcpd on
5, Trên máy client chạy XP, chọn chế độ thiết lập nhận IP từ DHCP và chờ. Sau vài giây sẽ nhận được
6, Muốn test DHCP reservation thì thêm 1 dòng tương đương như trên nhưng với địa chỉ MAC của client đó và địa chỉ IP muốn đặt trước
7, Kiểm tra việc cấp địa chỉ IP cho client :
- [root@srv2 /]# tail -f /var/lib/dhcpd/dhcpd.leases


P/S: ở đây tạm thời để gw mặc định là 192.168.1.2 ( địa chỉ của DNS-DHCP server ), sẽ thay đổi khi đến bài cấu hình Router/Firewall bằng iptables trên srv1



Cài đặt BIND đơn giản trên CentOS 5.x

DNS là gì thì có lẽ khỏi nói nữa , hơn nữa đây chỉ là bài viết step-by-step nên ko giải thích cặn kẽ các file phân giải ngược và xuôi. Nếu ai đó đọc thì xin hãy tìm hiểu thêm. Sẽ có bài viết về DNS master-slave


1, Cài đặt các gói cần thiết :
- Cho đĩa cài đặt CentOS
- [root@srv2 ~]# mkdir /media/cdrom
- [root@srv2 ~]# mount /dev/cdrom /media/cdrom
- [root@srv2 CentOS]# cd /media/cdrom/CentOS
- [root@srv2 CentOS]# rpm -Uvh bind-libs-* bind-chroot-* bind-utils-* bind-9.3*
 ( lưu ý có dấu "-" , ở đây dùng -Uvh vì rất có thể trong máy đã có bản cài bind nhưng không đi cùng các gói phụ thuộc dẫn tới không cài đặt được , nên tốt nhất là để Upgrade)
- [root@srv2 CentOS]# cd /  ( quay trở lại đường dẫn "/" để chuẩn bị umount )
- [root@srv2 /]# umount /dev/cdrom

2, Đổi hostname :
- [root@srv2 /]# vi /etc/sysconfig/network
- Thay đổi dòng HOSTNAME=localhost.localdomain thành HOSTNAME=srv2.example.com

3, Lưu ý :
- File cấu hình BIND là named.conf đặt trong đường dẫn /var/named/chroot/etc/
- Các file phân giải địa chỉ như : example.com.db1.168.192.db đặt trong đường dẫn /var/named/chroot/var/named/
 - File chứa địa chỉ 13 root DNS trên thế giới : root.db đặt trong /var/named/chroot/etc/
4, Cấu hình file named.conf :
options {
            directory "/etc";
            forwarders {208.67.222.222;};
            };
zone "." {
            type hint;
            file "/etc/root.db";
            };
zone "example.com" {
            type master;
            file "/var/named/example.com.db";
            };
zone "1.168.192.in-addr.arpa" {
            type master;
            file "/var/named/1.168.192.db";
            };

5, Tạo file phân giải xuôi : example.com.db
$TTL 86400
@        IN      SOA     example.com.  root.example.com. (
                        2007121802         ; serial
                        3H                        ; refresh, seconds
                        15M                     ; retry, seconds
                        1W                       ; expire, seconds
                        1D                        ; minimum, seconds
                        )
                        IN         NS       srv2.example.com
                        IN         MX      10 srv3
            1D       IN         A          192.168.1.2
srv3     1D       IN         A          192.168.1.3
srv2     1D       IN         A          192.168.1.2
srv1     1D       IN         A          192.168.1.1
www   1D       IN         CNAME           srv3
mail     1D       IN         CNAME           srv3
ftp       1D       IN         CNAME           srv3
 Cái dòng này :                         IN         NS       srv2.example.com  để không phải gõ www.example.com
6, Tạo file phân giải ngược : 1.168.192.db
$TTL 86400
@        IN      SOA     example.com.   root.example.com. (
                        2007121801        ; serial
                        4H                       ; refresh
                        1H                       ; retry
                        1W                      ; expire
                        1D                       ; minimum
                        )
@       IN      NS      srv2.example.com.
1         IN      PTR     srv1.example.com.
2         IN      PTR     srv2.example.com.
3         IN      PTR     srv3.example.com.
7, Tạo file root.db :
;       This file holds the information on root name servers needed to
;       initialize cache of Internet domain name servers
;       (e.g. reference this file in the "cache  .  <file>"
;       configuration file of BIND domain name servers).
;
;       This file is made available by InterNIC
;       under anonymous FTP as
;           file                /domain/named.cache
;           on server           FTP.INTERNIC.NET
;       -OR-                    RS.INTERNIC.NET
;
;       last update:    Jun 17, 2010
;       related version of root zone:   2010061700
;
; formerly NS.INTERNIC.NET
;
.                        3600000  IN  NS    A.ROOT-SERVERS.NET.
A.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     198.41.0.4
A.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:503:BA3E::2:30
;
; FORMERLY NS1.ISI.EDU
;
.                        3600000      NS    B.ROOT-SERVERS.NET.
B.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.228.79.201
;
; FORMERLY C.PSI.NET
;
.                        3600000      NS    C.ROOT-SERVERS.NET.
C.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.33.4.12
;
; FORMERLY TERP.UMD.EDU
;
.                        3600000      NS    D.ROOT-SERVERS.NET.
D.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     128.8.10.90
;
; FORMERLY NS.NASA.GOV
;
.                        3600000      NS    E.ROOT-SERVERS.NET.
E.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.203.230.10
;
; FORMERLY NS.ISC.ORG
;
.                        3600000      NS    F.ROOT-SERVERS.NET.
F.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.5.5.241
F.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:500:2F::F
;
; FORMERLY NS.NIC.DDN.MIL
;
.                        3600000      NS    G.ROOT-SERVERS.NET.
G.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.112.36.4
;
; FORMERLY AOS.ARL.ARMY.MIL
;
.                        3600000      NS    H.ROOT-SERVERS.NET.
H.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     128.63.2.53
H.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:500:1::803F:235
;
; FORMERLY NIC.NORDU.NET
;
.                        3600000      NS    I.ROOT-SERVERS.NET.
I.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.36.148.17
I.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:7FE::53
;
; OPERATED BY VERISIGN, INC.
;
.                        3600000      NS    J.ROOT-SERVERS.NET.
J.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     192.58.128.30
J.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:503:C27::2:30
;
; OPERATED BY RIPE NCC
;
.                        3600000      NS    K.ROOT-SERVERS.NET.
K.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     193.0.14.129
K.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:7FD::1
;
; OPERATED BY ICANN
;
.                        3600000      NS    L.ROOT-SERVERS.NET.
L.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     199.7.83.42
L.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:500:3::42
;
; OPERATED BY WIDE
;
.                        3600000      NS    M.ROOT-SERVERS.NET.
M.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      A     202.12.27.33
M.ROOT-SERVERS.NET.      3600000      AAAA  2001:DC3::35
; End of File

8, Khởi động dịch vụ :
- [root@srv2 /]# /etc/init.d/named start
 hoặc
- [root@srv2 /]# service named start
9, Kiểm tra hoạt động trên 1 client chạy XP đã cấu hình địa chỉ DNS server ( ở đây là 192.168.1.2) : gõ lệnh nslookup trong cmd và test
10, Thiết lập dịch vụ chạy khi Server khởi động :
- [root@srv2 /]# chkconfig --level 2345 named on

P/S:
- bổ xung thêm bước số 10
- Chỉnh lại bước cài đặt gói, chỉ ra cụ thể 4 gói cần thiết ( tránh install thừa )
- Trong Centos 5.9 ( mới ra tháng 1/2013 này ), thì 2 gói bind-utilsbind-libs đã cài đặt, khi rpm -Uvh thì nó báo đã cài đặt --> rpm bị stop lại. Cách giải quyết tạm là rpm -e 2 gói đó rồi cài lại

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Note Fedora 17 (1)


Cài đặt gói phần mềm , dùng yum groupinstall :
- yum groupinstall "Office/Productivity" --> LibreOffice
- yum groupinstall "GNOME Desktop Environment"

Chỉnh sửa thứ tự mặc định boot (dùng trong dualboot), ví dụ ở đây là XP:
- less grub.cfg | grep XP --> tìm dòng có ghi về XP , như ở dưới
- grub2-set-default "Microsoft Windows XP Professional (on /dev/sda1)"
- grub2-mkconfig -o /boot/grub2/grub.cfg

Cài đặt Packet Tracer trên Fedora:
- Download tại :
http://www.4shared.com/archive/EIeMzIkI/PacketTracer53_Fedoratar.html
- tar -xzf PacketTracer53_Fedora.tar.gz
- cd PacketTracer53
- ./install

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

Đã hoàn thành chứng chỉ MCSA 2003

Vậy là kế hoạch hoàn thành MCSA đến giữa tháng 7 đã theo kế hoạch , dù thực sự lúc thi chỉ ôn theo dump và không còn nhớ nhiều về M$ 2003 nữa nhưng vẫn cảm thấy rất vui vì kết quả trên . Nó chứng tỏ 2 điều :
- Tôi có khả năng hoàn thành công việc theo kế hoạch đặt ra
- Đầu óc không quá trì trệ , rỉ sét .
Giờ là lúc tiến lên phía trước , với chú chim cánh cụt Linux , networking ( 4 cuốn CCNA và cuốn TCP/IP Illustrated ) , 1 ngôn ngữ lập trình rất hay là Python và English ( tuần sau sẽ đến test thử ở iSep để xem cái vốn TA của mình nó còn bao nhiêu )

To live is to FIGHT nowwwwwwwwwwwwwwwww

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

9 thói quen tệ hại cần loại bỏ trong lĩnh vực CNTT

1. Không chịu đọc tài liệu trước khi dùng:

Đây là một trong những thói quen tệ hại nhất nhưng lại thường gặp nhất. Có lẽ thói quen này nảy sinh từ tính thân thiện của "giao diện đồ hình" (GUI) khiến cho người dùng bồi đắp thói quen mò mẫm mà không cần đọc hướng dẫn nhưng cũng sử dụng được máy. Việc này không có gì đáng ngại đối với người dùng (rất) bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn có ý định theo đuổi ngành CNTT một cách nghiêm túc thì hãy bỏ ngay thói quen tai hại này bởi vì đây là rào cản lớn nhất cho sự phát triển. Kiến thức vững chắc không phải... mò mà ra. Tài liệu hướng dẫn không phải vô cớ mà được viết ra.


2. Đọc lướt:

Đây cũng là một thói quen tệ hại và phổ biến không kém. Ngay trên những diễn đàn, với những ý kiến và chỉ dẫn bằng tiếng Việt rất cô đọng, rành mạch và dễ hiểu nhưng vẫn có quá nhiều người chỉ đọc lướt để rồi quay lại tiếp tục thắc mắc. Đây là thói quen cực kỳ nguy hiểm bởi vì nó rèn cho trí não thói quen đọc lướt. Việc này dẫn đến chỗ kiến thức thu thập một cách hời hợt, tạm bợ và chắp vá. Nếu những ý kiến bằng tiếng Việt rất cô đọng, rành mạch và dễ hiểu nhưng vẫn không chịu khó đọc kỹ và suy gẫm thì việc tham khảo, tổng hợp các sách tiếng nước ngoài gần như là vô khả thi.


3. Bắt chước mà không suy nghĩ:

Khi bắt đầu làm quen với những thứ trong ngành CNTT, cách dễ nhất là bắt chước làm theo từng bước. Nếu cứ nhắm mắt làm theo nhưng không hề suy nghĩ lý do tại sao mình làm như vậy, không thử đặt câu hỏi những gì xảy ra đằng sau những "bước" ấy thì không chóng thì chày sẽ tạo cho mình một thói quen tai hại: bắt chước không suy nghĩ không tư duy như một cỗ máy. Từ chỗ làm theo từng bước có sẵn mà không suy nghĩ đến chỗ biến thành thói quen thì khả năng nhận định và tư duy sẽ bị thui chột. Chẳng những vậy, thói quen này kiềm hãm sự thẩm thấu kiến thức xuyên qua hàng loạt những câu hỏi. Tự đặt câu hỏi chính là cách buộc trí não mình làm việc và là viên đá đầu tiên để dấn thân vào chỗ phát triển trí tụệ.


4. Sợ khó:

Sợ khó tưởng chừng quá thông thường trên mọi lãnh vực nhưng trong lãnh vực CNTT thì thói quen "sợ khó" là thói quen giết chết ngay bước đầu làm quen và phát triển. Chẳng có ngành nghề thực thụ, đòi hỏi trí tuệ mà lại dễ dàng hết. Thói quen "sợ khó" biểu hiện từ chuyện đơn giản như học ngoại ngữ (để có thể tham khảo thêm tài liệu ngoại ngữ) cho đến chuyện tự mình đối diện với những khó khăn trong khi trau dồi kiến thức và kinh nghiệm. Thói quen này lâu dần ăn sâu và dẫn đến chỗ không muốn và không thể giải quyết được điều gì nếu chỉ cảm thấy có trở ngại. Nên tránh xa câu này: vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản.


5. Viện cớ:

Quá trình tích lũy kiến thức luôn luôn có những khó khăn và trở ngại. Nếu chính bản thân mình không tự kỷ luật và tự nghiêm khắc thì chẳng còn ai trên đời này kỷ luật và nghiêm khắc giúp mình. Từ chỗ không kỷ luật và không nghiêm khắc, chỉ cần một thời gian rất ngắn có thể dẫn đến sự đổ vỡ, sợ hãi, chán nản và để bào chữa cho sự đổ vỡ thường là những viện cớ. Viện cớ chỉ để ẩn nấp sau cái cớ nhưng sự thật sụp đổ vẫn tồn tại. Tránh xa những câu như "nhà em nghèo", "hoàn cảnh khó khăn", "vì em là newbie" mà nên biết rằng vô số những người khác cũng như mình và thậm chí còn khó khăn hơn mình. Nên nhớ rằng, ngay khi dùng cái cớ để viện thì lúc ấy mình đã chính thức thất bại rồi.


6. "Đi tắt đón đầu":

Trên đời này chẳng có loại tri thức đích thực nào hình thành từ "đi tắt" và "đón đầu" cả. "Mì ăn liền" có cái ngon của nó nhưng chính "mì ăn liền" không thể hình thành một bữa ăn thịnh soạn và đầy đủ. Tri thức đích thực cũng như thức ăn, nó cần điều độ, liều lượng và thời gian để... tiêu hoá. Tư duy và thói quen "đi tắt" luôn luôn dẫn đến những lổ hổng khủng khiếp trong kiến thức. Những lổ hổng ấy xem chừng không nhiều và không quan trọng khi kiến thức còn ít ỏi và nhu cầu công việc còn sơ khai. Tuy nhiên, một khi đối diện với những khó khăn và phức tạp trong công việc và trong đời sống thì những thứ "đi tắt đón đầu" là nguyên nhân sâu xa của những đổ vỡ và thất bại. Hãy nhớ: đừng đi tắt và đừng đón đầu bởi vì chẳng có cái đường tắt nào trong hành trình đi tìm tri thức.


7. "Nghe nói là..."

Cụm "nghe nói là..." là một cụm phổ biến đến độ chóng mặt. Bất cứ một ngành khoa học hay có liên quan đến khoa học không thể dựa trên "nghe nói" mà luôn luôn cần dựa trên các bằng chứng khoa học và những bằng chứng ấy cần chính xác và cụ thể. Chính vì có thói quen "nghe nói" mà đánh rớt những cơ hội tìm tòi và kiểm chứng; những cơ hội quý báu để trau dồi kiến thức và kinh nghiệm. Cái gì không rõ thì nên tìm tòi và đừng "nghe nói" mà phải được thấy, được phân tích và được kiểm chứng. Không bỏ được thói quen này thì cách tốt nhất đừng bén mảng gần bất cứ ngành khoa học nào vì chỉ chuốc lấy sự thất bại và lãng phí.


8. Niềm tin và hy vọng:

Trong khoa học, khi nói đến kết quả và sự kiến tạo hoặc thậm chí con đường đi đến sự kiến tạo và kết quả thì hoàn toàn không có chỗ cho "niềm tin" và "hy vọng" một cách mù mờ. Thói quen "restart" lại máy hay "restart" lại chương trình với "hy vọng" nó sẽ khắc phục sự cố đã trở thành thói quen cố hữu. Nếu không có điều kiện thay đổi nào khác thì có "restart" một triệu lần và hy vọng một triệu lần thì kết quả vẫn y hệt nhau. Đừng "tin" và đừng "hy vọng" vào sự thay đổi của kết quả nếu như chính bạn không kiểm soát và thay đổi để tạo thay đổi trong kết quả. Tất cả mọi hoạt động từ lập trình cho đến quản lý hệ thống, quản lý mạng, bảo mật, reverse engineering.... thậm chí đối với người dùng bình thường, khi kết quả không như ý, sự điều chỉnh là điều cần thiết thay vì lặp lại y hệt hành động và chỉ... hy vọng.


9. Không vì trí tuệ mà vì... "đẳng cấp":

Lắm bạn lao vào ngành này không phải là vì trí tuệ, vì kiến thức, vì đóng góp một cái gì đó ích lợi cho xã hội mà là vì... đẳng cấp mơ hồ nào đó. Nếu tiếp tục lao vào và chọn lấy một muc tiêu mơ hồ thì sẽ không bao giờ đi đến đích được. "Đẳng cấp" là một thứ mơ hồ, vô ích và đầy cá nhân tính nhưng khi nó biến thành thói quen và mục tiêu để nhắm tới thì nó chẳng mang lại được gì ngoài sự thất bại ngay từ đầu vì hoàn toàn không có một phương hướng nào cả. Trau dồi kiến thức hoàn toàn khác với việc xoa dịu mặc cảm ("đẳng cấp").                            

Nguồn: https://www.hvaonline.net/hvaonline/posts/list/42715.hva
Người viết : conmale

P/S : đọc bài viết này mới thấy mình đã bị nhiễm 8/9 thói quen này khá nặng , và đang cố gắng để thoát khỏi ra cái vũng lấy này
Có những cái không để ý bao giờ đó chính là Help và tài liệu của chính hãng , trước giờ cứ tìm hiểu 1 vấn đề gì là cuống cuồng lên mạng search ra 1 đống ebook về vấn đề đó nhưng thực sự chỉ đọc rất qua loa , trong khi đó Help và tài liệu chính hãng là những thứ đã được chắt lọc rất kĩ càng để đưa lên.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Mùa hè đến rồi ..........

Thế là kết thúc năm thứ 4 rồi , thi thố thì không đến nỗi quá tệ. Giờ là bắt đầu cho những dự định , tham vọng cá nhân :
- Hoàn thành nốt 2 course còn lại 236 và 680 , lấy được cái chứng chỉ MCSA. Từ khi học Linux thì cảm thấy không muốn quay về với Windows Server nữa. Nhưng chót bỏ tiền mua voucher rồi , thôi thì cố gắng nốt chứng chỉ , biết đâu sau này sẽ có ích. Dự định trong tháng này sẽ thi 236 , và tháng sau là 680.

- Dịch nốt "The Philosophy of System Administration".

- Tìm hiểu 1 cách sâu sắc hơn về HĐH Linux ( đã thích chú chim cánh cụt rồi :D ) , các dịch vụ quan trọng như LAMP , Nginx , các giải pháp mạng sử dụng Linux.

- Ngốn hết 3/4 quyển CCNA , đọc kĩ càng cuốn TCP/IP Illustrated của Stevens.( cái này tuy khó , nhưng ko sao , ko đặt nặng số lượng , ưu tiên cho chất lượng đọc )

- Tìm 1 đề tài hay ho để bắt đầu nghiên cứu , chuẩn bị cho làm đồ án tốt nghiệp năm cuối.

- Lập trình ?? Cái này phải dài hơi , và kèm theo những cái trên thì cái này thật khó để mà đạt được. Thôi thì cố được thì cố vậy.

- Tiếng Anh , làm khóa học TOEIC thôi , rủ thêm thằng bạn học cho khí thế.

Những cái gạch đầu dòng trên toàn là học , vì vậy cái cuối này sẽ là :
- Tập thể dục , tăng cường sức khỏe và cân đối cái body đang phát tướng =))

P/s : vẫn biết nói thì lúc nào cũng hay , làm thì mới là khó nhưng sẽ cố gắng hết sức. Vẫn biết bản tính của mình là đại .... lười , nên sẽ tuân thủ nghiêm ngặt. Những cái in đậm là những thứ được ưu tiên .

Chúc mọi người có một mùa hè ....................... năng động

- Theo 1 vài ý kiến tham khảo thì Tiếng Anh là rất quan trọng , đối với kĩ sư thì ko chỉ dừng lại ở việc đọc các tài liệu chuyên ngành mà còn có khả năng giao tiếp với các chuyên gia , vì vậy sẽ in đậm dự định học TOEIC